Khi đặt hai mẫu GPU laptop ở hai thế hệ cạnh nhau, bảng điểm benchmark là thứ dễ tra nhất và cũng là thứ dễ đọc lệch nhất. RTX 5070 bản laptop hơn RTX 4080 bản laptop ở chuẩn bộ nhớ và thế hệ nhân dựng hình, nhưng thua rõ về quy mô nhân xử lý, nên khoảng cách điểm số thay đổi theo từng bài đo chứ không cố định. Bài này trình bày đầy đủ số liệu Notebookcheck của cả hai, rồi chỉ ra ranh giới VRAM thực nằm ở đâu bằng một phép so khác giữ nguyên kiến trúc.
Bảng điểm benchmark giữa GPU laptop RTX 5070 và RTX 4080
Mẫu GPU laptop mới hơn là RTX 5070 bản laptop, thuộc kiến trúc Blackwell với 4.608 nhân CUDA, nhân RT thế hệ thứ tư và 8GB bộ nhớ GDDR7 chạy trên giao tiếp 128-bit. RTX 4080 bản laptop thuộc kiến trúc Ada Lovelace với 7.424 nhân CUDA, nhân RT thế hệ thứ ba và 12GB bộ nhớ GDDR6 trên giao tiếp 192-bit. Đây là hai phân khúc khác nhau của hai thế hệ khác nhau, nên bảng điểm phía dưới cần đọc theo từng bài đo.
Một điểm cần đính chính trước khi vào bảng. Nhiều bảng tra ghi bộ nhớ của RTX 4080 bản laptop là GDDR6X, nhưng trang thông số của hãng ghi GDDR6, và phép tính xác nhận điều đó: giao tiếp 192-bit nhân tốc độ 18 Gbps chia cho 8 cho ra đúng 432 GB/s. Bản Blackwell ngược lại đạt 448 GB/s dù giao tiếp hẹp hơn, nhờ GDDR7 chạy 28 Gbps.
| Chỉ tiêu | RTX 5070 Laptop | RTX 4080 Laptop |
|---|---|---|
| Kiến trúc | Blackwell | Ada Lovelace |
| Nhân RT | Thế hệ thứ tư | Thế hệ thứ ba |
| Nhân CUDA | 4.608 | 7.424 |
| Bộ nhớ đồ họa | 8GB GDDR7 | 12GB GDDR6 |
| Giao tiếp và băng thông | 128-bit, 448 GB/s | 192-bit, 432 GB/s |
| 3DMark Time Spy Graphics | 13.535,5 | 18.441,0 (hơn 36,2%) |
| 3DMark Fire Strike Graphics | 35.841,5 | 41.431,0 (hơn 15,6%) |
| Cyberpunk 2077, 1080p Ultra | 100,65 fps | 113,0 fps |
| Black Myth Wukong, 1080p cinematic | 36 fps | 42 fps |
| Battlefield 6, 1080p Overkill | 78,85 fps | 103,8 fps |
Hai bài đo tổng hợp cho hai kết quả lệch nhau khá xa. Ở 3DMark Time Spy mô phỏng DirectX 12, bản Ada Lovelace hơn 36,2%, đúng với ưu thế 61% về số nhân CUDA. Ở 3DMark Fire Strike chuẩn DirectX 11, khoảng cách rơi xuống 15,6%, vì bài đo này chạy ở độ phân giải thấp và ăn xung nhịp nhiều hơn ăn số nhân. Chỉ riêng hai dòng đó đã đủ thấy một con số duy nhất không mô tả nổi tương quan giữa hai mẫu GPU laptop này.
Sang game, biên độ tiếp tục co giãn theo từng tựa. Battlefield 6 ở thiết lập Overkill nới rộng khoảng cách lên gần một phần ba, trong khi Black Myth Wukong ở thiết lập cinematic chỉ chênh 6 khung hình. Bài RTX 5060 và RTX 5070 cho Laptop đã phân tích kỹ vì sao số nhân CUDA không quy đổi thẳng thành khung hình trong cùng một thế hệ.
Khoảng cách điểm số GPU laptop thu hẹp thế nào trong game thực tế
Cách kiểm tra sạch nhất là chạy cùng một tựa game qua ba mốc độ phân giải và xem khoảng cách biến động ra sao. Cyberpunk 2077 ở thiết lập Ultra tắt hiệu ứng tia cho dãy số như sau: tại 1080p là 100,65 so với 113,0 fps, tại 1440p là 64,6 so với 77,6 fps, tại 4K là 26,9 so với 35,05 fps.

Quy ra tỉ lệ, khoảng cách giữa hai mẫu GPU laptop ở ba mốc lần lượt là 12,3%, 20,1% và 30,3%. Khoảng cách quả thật nới ra khi độ phân giải tăng, nhưng đến mốc nặng nhất nó vẫn dừng ở 30,3%, tức thấp hơn khoảng cách 36,2% mà 3DMark Time Spy đo được về sức tính toán thô. Nói cách khác, ở đúng phép đo khắc nghiệt nhất, bản 8GB lại bám sát hơn mức mà bảng điểm tổng hợp dự báo.
Đây là chi tiết đáng lưu ý cho cách đọc quen thuộc rằng 8GB sẽ vỡ trận ở 4K. Nếu dung lượng bộ nhớ đã chạm trần tại đó, biên độ phải phình ra vượt mức 36,2% chứ không co lại. Bảng điểm thô vì thế mới nói được một nửa câu chuyện, và nửa còn lại nằm ở chỗ khác.
Phép so cùng kiến trúc Blackwell mới cô lập được ranh giới VRAM
Vấn đề của cặp RTX 5070 và RTX 4080 là chúng khác nhau ở năm biến cùng lúc: kiến trúc, thế hệ nhân RT, số nhân CUDA, loại bộ nhớ và độ rộng giao tiếp. Muốn biết riêng dung lượng chặn ở đâu, cần một cặp chỉ khác nhau ở phần bộ nhớ. Cặp đó là RTX 5070 Laptop bản 8GB và RTX 5070 Ti Laptop bản 12GB, cùng kiến trúc Blackwell, cùng nhân RT thế hệ thứ tư, cùng bộ nhớ GDDR7, theo bảng so sánh GPU laptop GeForce của NVIDIA.
Bản Ti nhiều hơn 27,8% nhân xử lý, và hai bài đo tổng hợp xác nhận biên độ đó: Time Spy là 13.535,5 so với 16.739,5 điểm, tức hơn 23,7%; Fire Strike là 35.841,5 so với 43.722,0 điểm, tức hơn 22,0%. Đường cơ sở của cặp này vì thế nằm quanh mốc 22 đến 24%. Mọi khoảng cách vượt xa dải đó đều cần một lời giải thích khác ngoài sức tính toán.

Bậc thang Forza Horizon 6 nói phần còn lại. Ở thiết lập very low tại 1080p, hai card cách nhau 169 so với 184 fps, tức 8,9%, còn thấp hơn đường cơ sở. Lên thiết lập extreme mà vẫn tắt hiệu ứng tia, tỉ lệ là 74 so với 104 fps, tức 40,5%. Kích hoạt ray tracing trên đúng độ phân giải 1080p đó, con số thành 23 so với 62 fps, tức 169,6%. Lên 1440p có ray tracing, nó chạm 15 so với 42 fps, tức 180,0%.
Giữa dòng thứ ba và dòng thứ tư, số nhân CUDA không đổi, độ phân giải không đổi, số điểm ảnh phải tô cũng không đổi. Chỉ một tùy chọn đổi trạng thái. Cần nói rõ hai điều để bạn tự cân nhắc: bản Ti còn hơn 50% băng thông nên một phần biên độ thuộc về đó, và ô 23 fps là một phép đo đơn lẻ trong khi ô 62 fps là trung vị của ba máy khác nhau.
Ray tracing lấy thêm bộ nhớ ở đâu trong một khung hình
Cơ chế nằm ở cấu trúc gia tốc mang tên bounding volume hierarchy, gọi tắt là BVH. Trước khi bắn tia, GPU phải dựng sẵn một cây bao khối lồng nhau mô tả toàn bộ hình học của cảnh, để mỗi tia biết cần kiểm tra tam giác nào thay vì quét hết. Trang NVIDIA RTX Kit mô tả đúng khâu dựng BVH này như một phần cốt lõi của quy trình. Cây đó nằm trong bộ nhớ đồ họa, và dung lượng của nó tỉ lệ với mật độ tam giác chứ không tỉ lệ với số điểm ảnh.
Phần thứ hai là các tầng đệm phụ. Phản chiếu, bóng đổ và chiếu sáng toàn cục bằng tia đều xuất ra ảnh trung gian riêng, thường ở dạng nhiễu hạt, rồi đi qua khâu khử nhiễu. Bộ khử nhiễu phải giữ lại dữ liệu của các khung hình trước để tái tạo hình ảnh sạch, nghĩa là bộ nhớ chứa thêm vài lớp đệm nữa bên cạnh đệm màu quen thuộc. Chi phí này cộng vào ngay cả khi độ phân giải giữ nguyên.
Đây là chỗ hiệu ứng tia khác hẳn việc tăng độ phân giải. Nâng từ 1080p lên 4K nhân phần đệm màu lên khoảng bốn lần, nhưng cây BVH gần như đứng yên vì hình học của cảnh không đổi. Ngược lại, bật dò tia cộng thêm một khối dữ liệu lớn mà độ phân giải không giúp giảm bớt. Bài VRAM bao nhiêu là đủ cho laptop gaming mô tả kỹ hiện tượng hiệu năng gãy theo bậc khi bộ nhớ chạm trần.
Khi nào 8GB vẫn đủ và khi nào ray tracing làm gãy khung hình
Kết luận sẽ hỏng nếu bị đẩy quá xa. Bật ray tracing không tự động khiến bản 8GB gãy, vì mỗi tựa game đặt ngân sách hình học và số lượng hiệu ứng tia ở mức khác nhau. Forza Horizon 6 với thiết lập extreme là trường hợp nặng nhất trong toàn bộ dữ liệu, không phải trường hợp trung bình.
Bốn phép đối chứng dưới đây lấy từ cùng cặp card cùng kiến trúc, cùng nguồn số liệu. Hai dòng đầu bật ray tracing mà vẫn nằm quanh đường cơ sở, hai dòng cuối tắt hiệu ứng tia ở độ phân giải rất cao mà khoảng cách vẫn không nới ra.
| Phép đối chứng | RTX 5070 Laptop 8GB | RTX 5070 Ti Laptop 12GB | Chênh lệch |
|---|---|---|---|
| Resident Evil Requiem, 1080p max, bật ray tracing | 52,5 fps | 62,75 fps | 19,5% |
| Call of Duty Black Ops 7, 1080p extreme, bật ray tracing | 42 fps | 55 fps | 31,0% |
| Black Myth Wukong, 1440p cinematic, tắt ray tracing | 26 fps | 32 fps | 23,1% |
| Call of Duty Black Ops 6, 4K extreme, tắt ray tracing | 38 fps | 37 fps | âm 2,6% |
Dòng cuối bảng đáng chú ý nhất. Ở 4K thiết lập extreme mà tắt hiệu ứng tia, bản 8GB đạt 38 fps còn bản 12GB đạt 37 fps, nghĩa là dung lượng lớn hơn không đem lại ưu thế nào. Riêng phép đo này đã bác bỏ cách nói rằng cứ lên 4K là 8GB hụt hơi. Ở chiều ngược lại, Resident Evil Requiem bật ray tracing tại 1080p chỉ chênh 19,5%, thấp hơn cả đường cơ sở, cho thấy nhiều tựa game vẫn xoay xở gọn trong 8GB.
Ranh giới thực dụng của một mẫu GPU laptop 8GB vì thế khá gọn. Chơi ở 1080p hoặc 1440p với hiệu ứng tia tắt, hoặc bật dò tia ở mức vừa phải trong các tựa game có ngân sách hình học nhẹ, bản 8GB vẫn đáp ứng tốt. Đặt các thiết lập tia cao nhất trong những tựa game thế giới mở nhiều tam giác thì dung lượng trở thành yếu tố cốt lõi. Một lưu ý cuối về danh xưng: hãng hiện niêm yết RTX 5070 bản laptop ở hai cấu hình bộ nhớ là 12GB và 8GB, nên hãy xác minh dung lượng của đúng mã máy trước khi quyết định.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
RTX 5070 bản laptop có phiên bản 12GB hay chỉ có bản 8GB?
Bảng thông số GPU laptop trên trang NVIDIA ghi cấu hình bộ nhớ tiêu chuẩn của RTX 5070 Laptop là 12GB GDDR7 hoặc 8GB GDDR7, tức hai cấu hình cùng mang một danh xưng. Toàn bộ số đo trích trong bài thuộc về bản 8GB theo cơ sở dữ liệu Notebookcheck. Vì hai bản khác nhau đúng ở biến đang bàn, việc xác minh dung lượng ghi trong cấu hình máy quan trọng hơn việc đọc tên card.
Điểm benchmark của RTX 4080 cao hơn thì có nghĩa nó luôn nhanh hơn không?
Ưu thế của bản Ada Lovelace dao động theo bài đo: hơn 36,2% ở Time Spy nhưng chỉ hơn 15,6% ở Fire Strike. Trong game, biên độ chạy từ 12,3% tại Cyberpunk 2077 mức 1080p Ultra tới 30,3% tại 4K. Ở Forza Horizon 6 mức 1080p extreme có bật ray tracing, nó đạt 59 fps so với 23 fps, nhưng vẫn thấp hơn 62 fps của RTX 5070 Ti Laptop.
Bật ray tracing thì bản 8GB thiếu bao nhiêu bộ nhớ?
Không có con số dung lượng nào được công bố cho từng tựa game, nên phần thiếu hụt chỉ quan sát được gián tiếp qua khung hình. Dấu hiệu rõ nhất là khoảng cách với một card cùng kiến trúc bỗng vượt xa đường cơ sở tính bằng nhân xử lý. Trong Forza Horizon 6 ở 1080p, khoảng cách đó nhảy từ 40,5% khi tắt hiệu ứng tia lên 169,6% khi bật.
Nên hạ thiết lập nào để bản 8GB không gãy khung hình?
Tùy chọn ray tracing nên là thứ hạ đầu tiên, trước cả độ phân giải và chất lượng vân bề mặt. Vẫn trong Forza Horizon 6 ở 1080p thiết lập extreme, riêng việc tắt hiệu ứng tia đưa RTX 5070 Laptop từ 23 fps lên 74 fps mà không phải giảm độ phân giải. Đổi lại, phản chiếu và bóng đổ quay về phương pháp dựng hình truyền thống.





0 phản hồi cho “GPU Laptop RTX 5070 vs RTX 4080: Điểm số benchmark và ranh giới VRAM”